Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Ninh về kết quả thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng năm 2019, ngày 12-12-2019_Ảnh: ubkttw.vn

Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát

Giám sát là tất yếu khách quan đối với mọi tổ chức do con người lập ra, tổ chức càng cao, càng chặt chẽ, kỷ luật càng nghiêm minh càng phải giám sát nghiêm túc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của công tác kiểm tra, giám sát; đồng thời, đã chính thức quy định chức năng, nhiệm vụ giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp tại Điều 30 và Điều 32, Điều lệ Đảng, cùng với công tác kiểm tra, công tác giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.

Đại hội XII của Đảng xác định:“Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng”(1); từ đầu nhiệm kỳ đến nay, cấp ủy, UBKT các cấp đã quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác giám sát và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nổi bật như cấp ủy, UBKT các cấp đã nghiêm túc tổ chức nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác giám sát; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp đã kịp thời ban hành chương trình, kế hoạch, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận về công tác giám sát để triển khai thực hiện(2). Qua đó, nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, mà trước hết là của người đứng đầu cấp ủy về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa và tác dụng của công tác giám sát đã được nâng lên.

Cấp ủy, UBKT các cấp có nhiều đổi mới, nỗ lực cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát và các cuộc giám sát ngày càng được nâng lên; đã thực sự cầu thị, lắng nghe ý kiến chính đáng của nhân dân, báo chí và công luận; công khai kết quả kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật được tăng cường, thực hiện nền nếp. Công tác giám sát đã góp phần tích cực vào việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; kịp thời phát hiện những khó khăn, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, những bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật để đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Công tác phối hợp giữa UBKT với các tổ chức đảng và cơ quan, cá nhân liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và công tác xây dựng Đảng có nhiều chuyển biến tích cực, thường xuyên, chặt chẽ hơn.

Tổ chức bộ máy UBKT, cơ quan UBKT và đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp thường xuyên được củng cố, tăng cường. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được UBKT Trung ương và UBKT các cấp quan tâm, thực hiện với nhiều đề tài, đề án về công tác giám sát có chất lượng cao, đóng góp chung cho công tác lý luận của Đảng. Nhiều đề tài, đề án được hoàn thành và đưa vào ứng dụng thực tiễn. Cấp ủy các cấp đã phân công các đồng chí cấp ủy viên theo dõi, phụ trách địa bàn, lĩnh vực, thường xuyên dự sinh hoạt với các tổ chức đảng cấp dưới để nắm bắt tình hình. Định kỳ, cấp ủy nghe các ban tham mưu, giúp việc, tổ chức đảng cấp dưới báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ giám sát để kịp thời chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, những vấn đề phức tạp, nổi cộm; đồng thời, chỉ đạo, định hướng hoạt động giám sát; chủ trì sơ kết, tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ giám sát. Ủy ban kiểm tra các cấp tích cực, chủ động thực hiện nhiệm vụ giám sát thường xuyên; phân công nhiệm vụ giám sát cho từng thành viên ủy ban, cán bộ kiểm tra; nhiều nơi đã ban hành và thực hiện quy định gắn trách nhiệm của cán bộ địa bàn, lĩnh vực đối với từng địa phương, đơn vị được phân công theo dõi. Việc giám sát chuyên đề được thực hiện tập trung vào đối tượng là cán bộ chủ chốt, những lĩnh vực, địa bàn nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Nội dung giám sát của cấp ủy và UBKT các cấp đã tập trung vào việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ công tác; việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; những điều đảng viên không được làm; kê khai tài sản, thu nhập; việc ban hành văn bản có dấu hiệu trái với nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; công tác cán bộ; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí...

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII, đến hết tháng 6-2019, cấp ủy các cấp giám sát gần 121 nghìn tổ chức đảng và gần 410 nghìn đảng viên; trong đó, có gần 111 nghìn đảng viên là cấp ủy viên các cấp. Qua giám sát, phát hiện gần 1.500 tổ chức đảng và gần 2.600 đảng viên có dấu hiệu vi phạm; chuyển UBKT khi có dấu hiệu vi phạm gần 130 tổ chức và gần 450 đảng viên. Ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát gần 85 nghìn tổ chức đảng và gần 130 nghìn đảng viên, trong đó có hơn 49 nghìn đảng viên là cấp ủy viên các cấp. Qua giám sát, phát hiện gần 6.400 tổ chức đảng, hơn 3.600 đảng viên có dấu hiệu vi phạm; chuyển UBKT khi có dấu hiệu vi phạm đối với gần 450 tổ chức và gần 600 đảng viên.

Qua công tác giám sát của cấp ủy, UBKT các cấp, đã góp phần khắc phục kịp thời một số hạn chế, yếu kém; từng bước kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ”, tha hóa quyền lực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đồng thời, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, xây dựng hệ thống chính trị liêm chính, hành động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Một số khó khăn, hạn chế cần khắc phục

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tại Đại hội Đảng khóa XII đã chỉ rõ còn nhiều hạn chế vẫn chậm được khắc phục, chưa giải quyết triệt để: “Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng. Nhiều khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện, kiểm tra, xử lý, hoặc xử lý kéo dài, nên kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi chưa nghiêm; chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát”(3) và “Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái”, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra.

Bên cạnh đó, nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT trước hết là người đứng đầu cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng ở một số nơi vẫn còn hạn chế; chưa nắm vững phương thức lãnh đạo, quy định về công tác kiểm tra, giám sát nên việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chưa cụ thể, chưa sát thực tiễn và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả. Có nơi, thông tin về công tác giám sát còn chưa được công khai; việc sơ kết, tổng kết có nơi còn hình thức; việc phát hiện nhân tố điển hình trong công tác giám sát để tuyên dương, khen thưởng, nhân rộng còn chưa nhiều, có lúc, có nơi chưa kịp thời.

Việc xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước phục vụ công tác giám sát của Đảng còn hạn chế. Cơ chế phối hợp giữa UBKT và các cơ quan, đơn vị liên quan có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ, thông tin phối hợp chưa thường xuyên. Việc rà soát, thể chế hóa, cụ thể hóa nhằm liên thông, đồng bộ giữa văn bản của Đảng và của Nhà nước còn chậm, nên còn có những nội dung chưa thống nhất. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đối với hoạt động giám sát của Đảng chưa được củng cố; việc giám sát thường xuyên, nắm tình hình hoạt động của cấp ủy, người đứng đầu và việc thực hiện kết luận kiểm tra, yêu cầu sau giám sát của một số nơi chưa được quyết liệt, chưa sâu sát, chưa hiệu quả; việc sử dụng kết quả liên thông giữa hoạt động giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp với hoạt động của thanh tra nhà nước chưa đồng bộ, chặt chẽ. Công tác tham mưu của UBKT một số nơi chưa thật sự quyết liệt, đổi mới. Việc giám sát đối với cấp ủy viên cùng cấp chưa được đổi mới về phương thức thực hiện nên hiệu quả chưa cao. Quy trình, phương pháp giám sát của một số cấp ủy, UBKT (đặc biệt là cấp huyện và cấp cơ sở) chưa ban hành hoặc đã ban hành nhưng chưa đầy đủ, còn hình thức, rập khuôn quy trình của cấp trên, không phù hợp với thực tiễn nên khó áp dụng. Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn; chương trình đào tạo chưa thống nhất, chủ yếu đào tạo, bồi dưỡng phục vụ cho kỳ thi nâng ngạch kiểm tra, chưa chú trọng đào tạo các lĩnh vực chuyên sâu phục vụ cho thực hiện các nhiệm vụ giám sát; một số cán bộ mới được tuyển dụng, điều động, bổ sung chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, thiếu kiến thức về công tác xây dựng Đảng và kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn, như quản lý kinh tế, đất đai, tài nguyên, dự án đầu tư xây dựng... Cơ sở dữ liệu, thông tin trên các trang thông tin điện tử của Trung ương và địa phương chưa phong phú, chưa được cập nhật thường xuyên, chưa phản ánh được những kiến nghị của địa phương, cơ sở. Việc đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện phục vụ công tác giám sát chưa thỏa đáng, nhất là vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Tính dự báo trong công tác giám sát còn thấp; việc nghiên cứu, xây dựng hệ thống phân tích, đánh giá để nâng cao khả năng dự báo tình hình vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên để chủ động xác định nội dung, đối tượng giám sát chưa được quan tâm chỉ đạo, đầu tư nghiên cứu đúng mức; công tác nghiên cứu lý luận chưa làm sáng tỏ một số vấn đề về công tác giám sát của đảng cầm quyền, giữa giám sát việc trao và thực thi quyền lực để tránh việc lạm quyền và lộng quyền.

Nguyên nhân chính của hạn chế, khuyết điểm trên là do một số cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát; còn có nơi cấp ủy “khoán trắng” công tác giám sát cho UBKT; ý thức trách nhiệm, trình độ, năng lực, phương pháp, kỹ năng công tác của một số cán bộ kiểm tra còn hạn chế; quy định, quy trình về công tác giám sát còn một số bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn.

Một số giải pháp, nhiệm vụ cần thực hiện trong thời gian tới

Đất nước ta, đang đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới đan xen nhau; sự nghiệp xây dựng đất nước đang chuyển sang giai đoạn mới, cao hơn, ngày càng đi vào chiều sâu,... Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn xác định phải tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần kiên quyết, mạnh mẽ hơn nhằm tạo bước chuyển mới trong công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát nói riêng. Hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, của các cấp ủy, tổ chức đảng, sự đoàn kết thống nhất và thực hiện dân chủ trong hoạt động, sinh hoạt cấp ủy, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, xây dựng các cấp ủy và đội ngũ đảng viên trong sạch, vững mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; tránh nguy cơ sai lầm về đường lối, quan liêu, xa dân, thiếu trách nhiệm, tham nhũng, lãng phí; tập trung giám sát công tác chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Thực hiện yêu cầu này, cấp ủy và UBKT các cấp cần thấu triệt phương châm “giám sát phải mở rộng”, phát huy dân chủ, tăng cường giám sát cả về đối tượng, số lượng và phạm vi nhằm thực hiện có hiệu lực, hiệu quả đối với công tác này. Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ đó, cấp ủy, UBKT các cấp cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, cấp ủy và UBKT các cấp, mà trước hết là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải tiếp tục đổi mới, tăng cường nội dung, hình thức nhằm đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, học tập, quán triệt các quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác kiểm tra, giám sát; từ đó, mới có nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác trên; thể chế hóa thành các quy định cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị. Phải xác định công tác giám sát xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; coi đó là nguyên tắc bảo đảm cho việc thực hiện đúng mục tiêu, quan điểm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động giám sát, là một trong những phương thức lãnh đạo, một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng.

Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng và hoàn thiện các quy định về công tác giám sát của Đảng, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các quy định của Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn công tác xây dựng Đảng. Phát huy hiệu quả công tác phối hợp giữa UBKT với các cơ quan liên quan, như cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, truyền thông,... siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong giám sát, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”.

Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh trao đổi, lắng nghe ý kiến người dân tại buổi tiếp công dân thường kỳ ở thành phố Hạ Long, tháng 11-2019_Ảnh: congan.quangninh.gov.vn

Ba là, mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả giám sát, tập trung giám sát người đứng đầu tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; giám sát những nội dung mới của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thực hiện chưa nền nếp. Rà soát, tham mưu hoặc chủ động sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho thôi chức đối với cán bộ, đảng viên làm việc thiếu hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp, không quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Trước mắt, rà soát, xử lý dứt điểm trường hợp cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, gây bức xúc trong dư luận xã hội và nhân dân; giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong nội bộ”; giám sát công tác chuẩn bị đại hội đảng các cấp. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện, kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.

Bốn là, kiện toàn UBKT, cơ quan UBKT các cấp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, kiện toàn đội ngũ cán bộ kiểm tra, cơ quan UBKT; phát huy tinh thần gương mẫu, ý thức tự học, tự rèn luyện, cải tiến lề lối, phong cách làm việc; tăng cường cán bộ kiểm tra các cấp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực và nghiệp vụ chuyên môn giỏi để thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát. Nêu cao vai trò, trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn của UBKT cấp trên đối với UBKT và cấp ủy cấp dưới. Thực hiện thường xuyên việc trao đổi, cung cấp thông tin, kết hợp chặt chẽ giữa cấp ủy, UBKT với các tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội về công tác giám sát.

Năm là, chỉ đạo, hướng dẫn và sơ kết, tổng kết thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; từ đó, kịp thời biểu dương, khen thưởng các gương tập thể, cá nhân điển hình; tập trung tìm giải pháp giải quyết những công việc mới phát sinh được dư luận xã hội quan tâm; phổ biến mô hình, kinh nghiệm hay, cách làm mới trong công tác giám sát. Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Sáu là, là Đảng duy nhất cầm quyền, muốn mở rộng giám sát thì bên cạnh việc tăng cường giám sát trong Đảng cần phải phát huy vai trò giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và của các cơ quan thông tin đại chúng đối với tổ chức đảng, đảng viên. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, sớm hoàn thiện lý luận về công tác giám sát; trong đó, nghiên cứu cơ chế giám sát từ dưới lên nhằm phát huy dân chủ trong xã hội và nghiên cứu mở rộng nội dung, hình thức, chủ thể giám sát. Coi trọng nghiên cứu các chủ trương, biện pháp, cơ chế, chính sách để có dự báo chính xác, từ đó chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các vi phạm của các tổ chức đảng và đảng viên. Tăng cường nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công tác giám sát với các đảng cộng sản và một số nước trên thế giới./.

------------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 208
(2) Trung ương đã ban hành 15 Quy định; Ủy ban Kiểm tra Trung ương ban hành 20 Quy định, hướng dẫn
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 195 - 196

Tạp chí Cộng sản